Hỏi & Đáp: Thuốc Kháng Vi-rút, Mùa Cúm 2009-2010
Ngày 17 Tháng Mười Một năm 2009, 4:00 Chiều - Giờ Miền Đông
Trong Trang Này
Các Khuyến Cáo về Thuốc Kháng Vi-rút
Bàn Tròn
Bàn Tròn Về Cúm: Thuốc Kháng Vi-rút
Bối Cảnh
Vào ngày 22 Tháng Chín năm 2009, CDC đã cập nhật các khuyến cáo của mình về việc sử dụng thuốc kháng vi-rút cúm nhằm cung cấp hướng dẫn bổ sung cho các bác sĩ lâm sàng khi kê đơn thuốc kháng vi-rút để điều trị và phòng ngừa (điều trị dự phòng) cúm trong mùa cúm 2009-2010. Các khuyến cáo này nhằm mục đích giúp các bác sĩ lâm sàng ưu tiên sử dụng thuốc kháng vi-rút để điều trị và phòng ngừa cúm. Theo các khuyến cáo về thuốc kháng vi-rút trước đây đăng tải ngày 6 Tháng 5 năm 2009 và cập nhật ngày 8 Tháng Chín năm 2009, việc ưu tiên sử dụng thuốc kháng vi-rút trong mùa cúm này tiếp tục áp dụng đối với những người có bệnh cảnh nặng hơn, ví dụ như người nhập viện do cúm, người có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm. Tài liệu này đã được cập nhật nhằm làm sáng tỏ thêm một số vấn đề, bao gồm nguy cơ cao bị biến chứng ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi.
Cũng giống như khi đưa ra mọi quyết định về y khoa khác, đánh giá lâm sàng là yếu tố thiết yếu trong việc ra quyết định điều trị bằng thuốc kháng vi-rút.
Hướng dẫn mới này khác với hướng dẫn cũ ban hành ngày 8 Tháng Chín năm 2009 ở điểm nào?
Việc ưu tiên sử dụng thuốc kháng vi-rút trong mùa cúm sắp tới nhìn chung vấn giữ nguyên như đã được nêu sơ bộ trong các khuyến cáo về thuốc kháng vi-rút công bố lần đầu ngày 6 Tháng 5 năm 2009 và cập nhật ngày 8 Tháng 9 năm 2009; đó là ưu tiên sử dụng các thuốc này cho những bệnh nhân bị bệnh nặng (ví dụ như những người phải nhập viện) và những bệnh nhân bị bệnh giống cúm mà có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm. Thông tin mới trong hướng dẫn cập nhật ngày 22 Tháng Chín năm 2009 bao gồm:
- Các tình huống bổ sung và hướng dẫn cho bác sĩ lâm sàng về nguy cơ biến chứng và việc xem xét điều trị đối với trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.
- Thông tin về dụng cụ định liều thuốc uống được kèm theo thuốc Tamiflu® trong các gói thuốc dạng Huyền Dịch Uống, và hướng dẫn để bảo đảm rằng đơn vị đo lường trong đơn thuốc khớp với dụng cụ định liều cũng được đưa vào.
- Thông tin thêm về các tình trạng sinh lý tiềm ẩn có thể liên quan đến các rối loạn thần kinh cơ và thần kinh nhận thức, mà có thể góp phần làm tăng nguy cơ bị biến chứng do cúm ở những người có các rối loạn nêu trên.
Các khuyến cáo cập nhật này tiếp tục cân bằng giữa việc cung cấp cho bác sĩ lâm sàng thông tin và hướng dẫn cần thiết để tiếp cận những người có nguy cơ cao nhất với việc điều trị đúng đắn và kịp thời; để giảm nguy cơ kháng lại thuốc kháng vi-rút do điều trị dự phòng một cách không thích hợp và không cần thiết; và để vẫn thấy được tầm quan trọng tổng thể của đánh giá lâm sàng trong việc đưa ra các quyết định về điều trị và điều trị dự phòng.
Những ai được ưu tiên điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cúm?
Hầu hết mọi người nhiễm cúm đều khỏi bệnh mà không bị biến chứng.
Một số người có nguy cơ cao nhất bị các biến chứng liên quan đến cúm và được ưu tiên điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cúm trong mùa cúm này. Họ là:
- Những người có bệnh cảnh nặng, ví dụ như những người được nhập viện do nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm
- Những người nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm mà có nguy cơ cao bị biến chứng
- Trẻ em dưới 2 tuổi
- Người lớn từ 65 tuổi trở lên
- Phụ nữ mang thai
- Những người có tình trạng ức chế miễn dịch hoặc bệnh lý mãn tính
- Người dưới 19 tuổi đang được áp dụng liệu pháp aspirin dài hạn
Trẻ em từ 2 đến 4 tuổi thường dễ phải nhập viện hoặc cần phải được đánh giá y tế khẩn cấp do cúm so với trẻ lớn hơn, mặc dù nguy cơ là thấp hơn nhiều so với trẻ dưới 2 tuổi. Trẻ em từ 2 đến4 tuổi mà không có các tình trạng nguy cơ cao và không có bệnh cảnh nặng thì không cần thiết phải điều trị bằng thuốc kháng vi-rút.
Trẻ em và người lớn nghi ngờ nhiễm cúm mà có các triệu chứng của bệnh về đường hô hấp dưới hoặc tình trạng lâm sàng trở nên xấu hơn nên được điều trị kịp thời bằng liệu pháp kháng vi-rút theo kinh nghiệm, không kể đến tình trạng sức khỏe trước đó và tuổi tác.
Bác sĩ cũng có thể quyết định không điều trị một số người thuộc nhóm này và/hoặc điều trị những người không thuộc nhóm này dựa vào đánh giá lâm sàng của mình.
Những ai có mức độ ưu tiên thấp trong điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cúm?
Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút cúm nhìn chung không cần thiết đối với những người không có nguy cơ cao bị biến chứng hoặc không bị cúm nặng, như là những người cần nhập viện. Tuy nhiên, mọi bệnh nhân nghi nhiễm cúm có các dấu hiệu cảnh báo cấp cứu (ví dụ như khó thở hoặc thở hổn hển) hoặc các dấu hiệu của bệnh đường hô hấp dưới hoặc bệnh cảnh xấu đi thì nên được chăm sóc y tế kịp thời để được nhận liệu pháp kháng vi-rút khi được chỉ định.
Bác sĩ có thể điều trị cho một số bệnh nhân không thuộc nhóm nguy cơ cao dựa trên đánh giá lâm sàng của mình. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể quyết định rằng không cần thiết phải điều trị cho một số người thuộc nhóm nguy cơ cao dựa trên đánh giá lâm sàng của mình.
Loại thuốc kháng vi-rút cúm nào nên được sử dụng để điều trị trong mùa cúm này?
Vào thời điểm này, điều trị bằng oseltamivir (tên thương mại Tamiflu®) hoặc zanamivir (tên thương mại Relenza®) được khuyến cáo cho tất cả mọi người nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm cần nhập viện.
Khi nào thì nhà cung cấp dịch vụ y tế nên bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng vi-rút?
Khi đã có quyết định điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, nên bắt đầu điều trị bằng oseltamivir hoặc zanamivir càng sớm càng tốt ngay sau khi xuất hiện triệu chứng. Theo bằng chứng tại các nghiên cứu về cúm theo mùa, lợi ích của điều trị bằng thuốc kháng vi-rút là lớn nhất khi việc điều trị được bắt đầu trong vòng 48 giờ kể từ khi khởi phát bệnh. Tuy nhiên, một số nghiên cứu về điều trị bằng oseltamivir ở bệnh nhân nhập viện do cúm theo mùa đã chỉ ra rằng lợi ích, bao gồm cả việc giảm tỉ lệ tử vong hoặc thời gian nằm viện là bằng với các bệnh nhân được điều trị muộn hơn 48 giờ kể từ khi phát bệnh.
Khi có chỉ định điều trị, nhà cung cấp dịch vụ y tế nhìn chung không nên đợi xác nhận về cúm của phòng thí nghiệm để bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, bởi vì xét nghiệm của phòng thí nghiệm có thể làm chậm trễ việc điều trị và bởi vì một kết quả xét nghiệm nhanh âm tính với cúm không loại trừ khả năng mắc cúm. Độ nhậy của các xét nghiệm chẩn đoán cúm nhanh có thể dao động từ 10-70% đối với vi-rút H1N1 2009.
Nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể làm gì để giảm việc chậm trễ trong điều trị bằng thuốc kháng vi-rút?
Bác sĩ lâm sàng có thể thực hiện một số hành động để giảm sự chậm trễ trong điều trị bằng thuốc kháng vi-rút. Đó là:
- Thông báo cho những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm về các dấu hiệu và triệu chứng của cúm và sự cần thiết phải điều trị sớm đối với họ.
- Bảo đảm khả năng tiếp cận nhanh chóng đến dịch vụ tư vấn qua điện thoại và đánh giá lâm sàng cho những bệnh nhân này cũng như những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng.
- Xem xét việc điều trị theo kinh nghiệm đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm thông qua liên hệ qua điện thoại nếu như không có chỉ định nhập viện và nếu như điều này sẽ làm giảm đáng kể sự chậm trễ trước khi điều trị.
Nhà cung cấp dịch vụ y tế nên làm gì trong khi đợi kết quả xét nghiệm cúm?
Khi có chỉ định điều trị và nếu như bác sĩ quyết định xét nghiệm, nhà cung cấp dịch vụ y tế nên xem xét khả năng điều trị theo kinh nghiệm trong khi chờ kết quả xét nghiệm cúm, đặc biệt là nếu có sự chậm trễ đáng kể trước khi xét nghiệm có thể được thực hiện. Khi đã có quyết định điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, nên bắt đầu điều trị bằng oseltamivir hoặc zanamivir càng sớm càng tốt ngay sau khi xuất hiện triệu chứng.
Bệnh nhân nên được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút trong bao lâu?
Thời gian điều trị khuyến cáo là 5 ngày. Tuy nhiên, những bệnh nhân được nhập viện bị nhiễm cúm nặng có thể cần được điều trị dài hơn.
Khi nào thì bác sĩ lâm sàng nên kê đơn thuốc kháng vi-rút để phòng ngừa cúm?
Điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút trước khi phơi nhiễm chỉ nên được áp dụng trong những hoàn cảnh hạn chế, và có tham vấn cơ quan y tế công cộng hoặc y tế địa phương. Một số người có nguy cơ phơi nhiễm liên tục do nghề nghiệp (nhân viên chăm sóc y tế, người làm công việc y tế công cộng, những người ứng phó đầu tiên làm việc trong các cộng đồng đang bùng phát cúm A H1N1), đặc biệt là những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm, nên thận trọng tuân thủ các hướng dẫn về trang bị bảo vệ cá nhân thích hợp để phòng ngừa phơi nhiễm cúm. Những người làm công việc chăm sóc y tế có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm mà không thể giảm thiểu mức độ phơi nhiễm thì có thể cân nhắc khả năng tạm thời phân công lại công việc.
Những ai nên được nhận thuốc kháng vi-rút để phòng ngừa cúm?
Điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút nói chung chỉ nên dành cho những người có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm mà đã tiếp xúc với người khác có khả năng đã nhiễm cúm. Có một cách thay thế cho điều trị dự phòng, đó là bác sĩ lâm sàng cũng có thể chọn cách tư vấn cho người có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm về các triệu chứng và dấu hiệu sớm của cúm và khuyên họ nên liên hệ ngay lập tức với nhà cung cấp dịch vụ y tế để đánh giá và có thể điều trị sớm nếu như các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng tiến triển.
Có thể xem xét việc điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút oseltamivir hoặc zanamivir sau khi phơi nhiễm đối với nhân viên chăm sóc y tế, người làm công việc y tế công cộng, hoặc những người ứng phó đầu tiên mà đã được thừa nhận là có tiếp xúc gần, không bảo vệ với một người được xác nhận, có thể, hoặc nghi ngờ nhiễm cúm H1N1 2009 hoặc cúm theo mùa trong giai đoạn lây nhiễm của người đó. Tuy nhiên, việc sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (PPE) theo khuyến cáo và các biện pháp kiểm soát khác (như là để cho nhân viên châm sóc y tế nghỉ ở nhà khi bị bệnh, và phân loại theo nhu cầu chăm sóc y tế để xác định các bệnh nhân có khả năng lây nhiễm) nên được áp dụng để giảm bớt nhu cầu điều trị dự phòng sau phơi nhiễm của những người làm công việc chăm sóc y tế. Có một cách khác để thay thế cho điều trị dự phòng, đó là những nhân viên chăm sóc y tế đã phơi nhiễm trong khi làm việc cũng có thể được tư vấn về các triệu chứng và dấu hiệu sớm của cúm, và được khuyên nên liên hệ ngay lập tức với nhà cung cấp dịch vụ y tế để đánh giá và có thể điều trị sớm nếu như các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng tiến triển.
Có nên sử dụng các tác nhân kháng vi-rút để điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho những người khỏe mạnh không?
Không khuyến khích sử dụng tác nhân kháng vi-rút để phòng bệnh ở người lớn và trẻ em khỏe mạnh dựa vào khả năng phơi nhiễm tại cộng đồng, trường học, trại hoặc những nơi khác. Ngoài ra, không có dữ liệu về độ an toàn khi sử dụng tác nhân kháng vi-rút thường xuyên hoặc lâu dài ở trẻ em, và có ít thông tin này ở người lớn khỏe mạnh.
Nhà cung cấp dịch vụ y tế nên kê đơn loại thuốc kháng vi-rút nào để điều trị dự phòng H1N1 2009?
Để điều trị dự phòng nhiễm vi-rút cúm H1N1 2009 bằng thuốc kháng vi-rút, khuyến cáo nên sử dụng oseltamivir hoặc zanamivir. Hiện tại, vi-rút H1N1 2009 đang lan truyền mẫn cảm với zanamivir nhưng kháng amantadine.
Trong trường hợp điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút sau phơi nhiễm do tiếp xúc với người mắc bệnh thì thời hạn điều trị dự phòng được khuyến cáo là bao lâu?
Thời hạn điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút sau phơi nhiễm là 10 ngày kể từ ngày phơi nhiễm gần nhất được biết.
Có lựa chọn điều trị nào cho phụ nữ mang thai nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm H1N1 2009?
Oseltamivir và zanamivir là các loại thuốc "Loại C đối với Thai Kỳ", có nghĩa là chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được thực hiện để đánh giá độ an toàn của những thuốc này đối với phụ nữ mang thai. Việc mang thai không nên được coi là chống chỉ định đối với oseltamivir hoặc zanamivir. Do hoạt động hệ thống của mình, oseltamivir được ưa dùng hơn để điều trị cho phụ nữ mang thai.
Thông Tin Chung về Thuốc Kháng Vi-rút
Thuốc kháng vi-rút cúm là gì?
Thuốc kháng vi-rút cúm là những thuốc kê toa (dạng viên, dịch lỏng hoặc dụng cụ hít) làm giảm khả năng sinh sôi của vi-rút cúm. Trong khi chủng ngừa cúm mỗi năm là bước đầu tiên và quan trọng nhất để bảo vệ khỏi cúm, thì thuốc kháng vi-rút là bước bảo vệ thứ hai trong việc phòng ngừa và điều trị cúm.
Thuốc kháng vi-rút cúm có những lợi ích nào trong điều trị?
Để điều trị, thuốc kháng vi-rút nên được bắt đầu dùng trong vòng 2 ngày sau khi bị bệnh. Khi được dùng theo cách này, thuốc kháng vi-rút có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng cúm và rút ngắn bớt thời gian bị bệnh từ 1 đến 2 ngày. Thuốc này cũng có thể ngăn ngừa các biến chứng nặng do cúm. Tuy nhiên, một số nghiên cứu về điều trị bằng oseltamivir ở bệnh nhân nhập viện do cúm theo mùa đã chỉ ra rằng lợi ích, bao gồm cả việc giảm tỉ lệ tử vong hoặc thời gian nằm viện là bằng với các bệnh nhân được điều trị muộn hơn 48 giờ kể từ khi phát bệnh.
Thuốc kháng vi-rút có thể đặc biệt quan trọng đối với những người bị bệnh rất nặng (nhập viện) hoặc những người bị cúm và có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng do cúm, ví dụ như phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và những người có các tình trạng bệnh mãn tính.
Thuốc kháng vi-rút có hiệu quả như thế nào trong việc phòng ngừa cúm?
Khi được sử dụng để phòng ngừa cúm, thuốc kháng vi-rút có hiệu quả khoảng 70% đến 90% trong việc chống lại các vi-rút mẫn cảm (nghĩa là các loại vi-rút không kháng lại thuốc kháng vi-rút). Điều quan trọng là cần ghi nhớ rằng thuốc kháng vi-rút cúm không phải là giải pháp thay thế cho vắc-xin cúm.
Những tác dụng phụ nào có thể xảy ra khi dùng thuốc kháng vi-rút cúm?
Tác dụng phụ là khác nhau đối với mỗi loại thuốc. Nếu quý vị được kê đơn thuốc kháng vi-rút, hãy đề nghị bác sĩ giải thích cách dùng thuốc và các tác dụng phụ có thể xảy ra. Các chuyên gia chăm sóc y tế khi kê đơn thuốc kháng vi-rút nên cảnh báo cho bệnh nhân về các tác dụng phụ có thể xảy ra. Để biết thêm thông tin về tác dụng phụ, vui lòng xem Thuốc Kháng Vi-rút: Tóm Tắt về các Tác Dụng Phụ.
Thuốc Kháng Vi-rút và Trẻ Em
Trẻ em có thể dùng thuốc kháng vi-rút được không?
Có. Hai loại thuốc được khuyến cáo sử dụng để chống cúm (bao gồm cả cúm H1N1 2009) trong mùa cúm này có thể được sử dụng cho trẻ em.
- Oseltamivir (Tamiflu®) được phê chuẩn bởi Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA) để sử dụng cho trẻ em từ 1 tuổi trở lên. Gần đây, FDA đã ban hành Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu (EUA) về việc sử dụng Tamiflu® ở trẻ dưới 1 tuổi bị nhiễm vi-rút cúm H1N1 2009.
- Zanamivir (Relenza®), được phê chuẩn để điều trị cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên, nhưng chỉ được cấp phép để sử dụng cho người không có bệnh tim hoặc bệnh đường hô hấp tiềm ẩn, kể cả người bị hen.
Có những loại thuốc kháng vi-rút nào cho trẻ em?
Oseltamivir (Tamiflu®) có dạng huyền dịch uống (lỏng) dành cho trẻ em. Nó cũng có dạng viên nang với liều dùng cho trẻ em. Zanamivir (Relenza®) là loại bột hít vào có kèm theo một dụng cụ hít dạng đĩa.
Có những khuyến cáo nào trong việc sử dụng thuốc kháng vi-rút cho trẻ nhỏ?
Các khuyến cáo tạm thời được cập nhật vào ngày 22 Tháng Chín năm 2009 về việc sử dụng thuốc kháng vi-rút đưa ra những giải thích thêm về nguy cơ gia tăng bị biến chứng liên quan đến cúm của trẻ nhỏ. Trẻ em dưới 2 tuổi nên được xem xét điều trị theo kinh nghiệm sớm bằng thuốc kháng vi-rút oseltamivir nếu có nghi ngờ hoặc xác nhận nhiễm cúm. Những dữ liệu về việc nhập viện hiện có cho thấy rằng trẻ nhỏ dưới 2 tuổi có nguy cơ bị biến chứng liên quan đến cúm cao hơn nhóm người nhiều tuổi hơn. Từ Tháng Tư đến Tháng Tám năm 2009, tỷ lệ nhập viện được phòng thí nghiệm xác nhận do nhiễm H1N1 2009 ở trẻ em dưới 2 tuổi cao hơn 2,5 lần so với tỷ lệ này ở trẻ em từ 2 đến 4 tuổi. Trong các nghiên cứu về cúm theo mùa, nguy cơ phải nhập viện cũng cao hơn ở trẻ nhỏ, và nguy cơ này giảm bớt khi đứa trẻ lớn lên.
Xét đến nguy cơ cao phải nhập viện, trẻ em dưới 2 tuổi thường được khuyến cáo dùng thuốc kháng vi-rút. Trẻ em từ 2 tuổi đến 4 tuổi mà không có các tình trạng nguy cơ cao và không có bệnh cảnh nặng thì không cần thiết phải điều trị bằng thuốc kháng vi-rút. Trong khi trẻ em từ 2 tuổi đến 4 tuổi dễ phải nhập viện hoặc cần chăm sóc y tế khẩn cấp hơn so với trẻ lớn hơn, thì nguy cơ này thấp hơn rất nhiều so với nguy cơ ở trẻ nhỏ dưới 2 tuổi. Nhà cung cấp dịch vụ y tế cần dựa vào đánh giá lâm sàng để để đưa ra các quyết định điều trị cho trẻ khỏe mạnh.
Nếu như không có huyền dịch uống dành cho trẻ em (công thức dạng lỏng) và trẻ không thể nuốt được viên nang thì sao?
Khi không có Tamiflu® huyền dịch uống (công thức dạng lỏng) cho bệnh nhân là trẻ em, mà trẻ không nuốt được viên nang, thì có thể mở viên nang Tamiflu® dạng liều dùng cho trẻ em và trộn với chất lỏng ngọt chẳng hạn như si-rô sô-cô-la thông thường hoặc không đường.
Nếu không có huyền dịch uống (công thức dạng lỏng) và cũng không có viên nang Tamiflu® dạng liều dùng cho trẻ em thì sao?
Nếu không có cả huyền dịch uống và viên nang Tamiflu® dạng liều dùng cho trẻ em, thì có một cách khác để đáp ứng nhu cầu kê đơn Tamiflu® cho trẻ em. Viên nang liều người lớn (75 mg) có thể được một chuyên gia y tế pha chế ra để tạo thành liều dùng cho trẻ em. Pha chế là việc một chuyên gia y tế pha trộn thuốc để phù hợp với nhu cầu riêng của từng bệnh nhân. Xem tuyên bố của FDA nhắc nhở các nhà cung cấp dịch vụ y tế và dược sĩ về hướng dẫn đã được FDA phê duyệt đối với việc pha chế khẩn cấp huyền dịch uống từ viên nang Tamiflu® 75mg như được mô tả trong tờ hướng dẫn sử dụng oseltamivir (Tamiflu ®) của nhà sản suất đã được FDA phê chuẩn. Việc pha chế huyền dịch uống từ viên nang Tamiflu® 75mg cung cấp một loại huyền dịch uống thay thế khi không có sẵn huyền dịch uống được sản suất để bán trên thị trường.
Thuốc kháng vi-rút có những tác dụng phụ nào đối với trẻ em?
Các tác dụng phụ đã được báo cáo của oseltamivir là buồn nôn và nôn. Trong số những trẻ em được điều trị bằng oseltamivir trong các nghiên cứu lâm sàng, 14% trẻ nôn, so với tỷ lệ 8,5% trẻ nôn khi dùng "giả dược." (Giả dược là một chất không có hoạt tính, trông giống thuốc, và được dùng theo cùng một cách như thuốc trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng). Buồn nôn và nôn có thể nhẹ hơn nếu dùng oseltamivir cùng với thức ăn. Ngoài ra, đã có bằng chứng về việc tự làm bị thương hoặc mê sảng ở những người bị cúm mà dùng oseltamivir. Hầu hết các trường hợp được báo cáo này là ở trẻ vị thành niên từ Nhận Bản, và vẫn chưa chắc chắn liệu oseltamivir hay vi-rút cúm là nguyên nhân của những thay đổi hành vi này. Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ khuyến cáo rằng những người sử dụng một trong hai loại thuốc được khuyên dùng cho cúm (oseltamivir và zanamivir) nên được giám sát chặt chẽ về những hành vi bất thường.
Tác dụng phụ của zanamivir đã được báo cáo xảy ra ở ít hơn 5% số người tham gia thử nghiệm lâm sàng, và tỷ lệ gặp tác dụng phụ ở những người dùng zanamivir được báo cáo là ngang bằng với tỷ lệ ở những người dùng "giả dược". Tác dụng phụ được báo cáo bao gồm tiêu chảy, buồn nôn, viêm xoang, các dấu hiệu và triệu chứng ở mũi, viêm phế quản, ho, đau đầu, chóng mặt, và viêm tai, mũi và họng. Ngoài ra, không nên dùng zanamivir cho những người có bệnh đường hô hấp tiềm ẩn, bao gồm cả hen.
Thuốc kháng vi-rút có những lợi ích gì đối với trẻ em?
Thuốc kháng vi-rút hoạt động tốt nhất khi được dùng sớm ngay sau khi mắc bệnh (trong vòng hai ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng). Thuốc kháng vi-rút có thể làm cho các triệu chứng cúm nhẹ hơn và có thể rút ngắn thời gian bị bệnh. Người ta cũng đã thấy rằng việc điều trị cúm sớm bằng thuốc kháng vi-rút làm giảm tỷ lệ bị viêm tai và giảm nhu cầu dùng kháng sinh ở trẻ em từ 1 đến 12 tuổi. Các nghiên cứu ở người lớn cho thấy rằng điều trị bằng thuốc kháng vi-rút có thể làm giảm các biến chứng nặng liên quan đến cúm như là viêm phổi và việc phải nhập viện. Mặc dù chưa có những nghiên cứu tương tự ở trẻ em, nhưng thuốc kháng vi-rút có thể cũng có ích như vậy trong việc giảm bớt các biến chứng nặng liên quan đến cúm ở trẻ em. Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút có thể đặc biệt quan trọng đối với những trẻ có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm, bao gồm trẻ dưới 2 tuổi và trẻ ở bất kỳ tuổi nào mà có tình trạng bệnh mãn tính như hen, tiểu đường, bệnh tim hoặc phổi. Mùa cúm này, thuốc kháng vi-rút đang được ưu tiên sử dụng cho những bệnh nhân nhập viện (kể cả trẻ em) và những bệnh nhân có nguy cơ cao mà bị cúm.
Những chuyên gia khác nói gì về thuốc kháng vi-rút và trẻ em?
Học Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyến cáo dùng thuốc kháng vi-rút để điều trị cúm ở những trẻ có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng liên quan đến cúm và những trẻ bị cúm từ trung bình đến nặng. Những trẻ này có thể có được lợi ích của việc giảm thời gian có triệu chứng. Để biết thêm thông tin về, hãy xem các khuyến cáo của AAP.
Cúm
Cúm theo mùa hoặc cúm H1N1 2009 có những triệu chứng gì?
Triệu chứng của cúm theo mùa và cúm H1N1 2009 bao gồm sốt, ho, đau họng, chảy nước mũi hoặc ngạt mũi, đau người, đau đầu, ớn lạnh và mệt mỏi. Một số người cũng có thể bị nôn và tiêu chảy. Một số người có thể bị nhiễm cúm, bao gồm cả cúm H1N1 2009 và có các triệu chứng hô hấp mà không sốt.
Những ai có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm?
Các nhóm có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm H1N1 2009 cũng tương tự như những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm theo mùa, họ là: trẻ em dưới 5 tuổi (nguy cơ cao nhất là ở trẻ em dưới 2 tuổi); người lớn từ 65 tuổi trở lên, phụ nữ mang thai, người ở bất kỳ tuổi nào mà có các tình trạng bệnh lý mãn tính nhất định (ví dụ như hen, tiểu đường, bệnh phổi, người có hệ miễn dịch suy giảm v.v.) và người dưới 19 tuổi mà đang áp dụng liệu pháp aspirin dài hạn. Trẻ em 2-4 tuổi có nguy cơ phải nhập viện vì cúm H1N1 2009 và cúm theo mùa cao hơn đôi chút so với trẻ lớn hơn, và trẻ ở lứa tuổi này cũng có tỷ lệ cao điều trị ngoại trú và khám cấp cứu vì cúm.
Thuốc Kháng Vi-rút và Vắc-xin Cúm
Thuốc kháng vi-rút có giúp ích được cho những người không thể chủng ngừa cúm không?
Có. CDC và ACIP khuyến cáo nên sử dụng thuốc kháng vi-rút cho những người dị ứng với trứng (điều này có thể khiến cho họ có phản ứng dị ứng với vắc-xin) hoặc những người trước đây đã từng gặp biến chứng nghiêm trọng do hội chứng Guillain-Barre (GBS) có liên quan đến việc chủng ngừa cúm. Ngoài ra, việc dùng thuốc kháng vi-rút cũng có thể được khuyến cáo đối với những người không có đáp ứng miễn dịch tốt với vắc-xin cúm.
Vắc-xin cúm dạng xịt qua đường mũi có thể được dùng cùng với thuốc kháng vi-rút cúm không?
LAIV là một trong hai loại vắc-xin cúm. Nó được dùng theo cách xịt qua đường mũi và có chứa vi-rút còn sống được làm yếu đi. Thuốc kháng vi-rút cúm được dùng trong vòng từ 48 giờ trước đến 2 tuần sau khi chủng ngừa bằng LAIV có thể làm giảm hoặc ngăn không cho người được chủng ngừa đáp ứng với vắc-xin và người đó có thể không có được sự bảo vệ miễn dịch từ vắc-xin.
Thuốc kháng vi-rút có thể được dùng cùng với loại vắc-xin cúm chứa vi-rút bất hoạt (tức là đã chết).
Last syndicated: March 21, 2010 3:41 PM EDT
Nội dung này được đem tới cho quý vị bởi Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh

















