Bỏ Qua Phần Điều Hướng
Nhiệt kế Quốc Kỳ Mỹ
  • English
  • En Español
  • Tiếng Hoa
  • Tiếng Việt

Flu.gov - Biết Những Việc Cần Làm Để Phòng Tránh Cúm. Flu.gov - Biết Những Việc Cần Làm Để Phòng Tránh Cúm.
  • Trang Chủ về Bệnh Cúm
  • Tin Tức, Các Thông Cáo Phục Vụ Công Chúng (PSA) & Truyền Đạt
  • Nơi Quý Vị Sống
  • Các Câu Hỏi Thường Gặp
  • Dành cho các Cá nhân & Gia đình
    • Thông tin về Cúm
    • Chủng Ngừa
    • Phòng ngừa & Điều trị
      • Dược Phẩm & Thuốc Kháng Vi-rút
      • Mặt Nạ và Dụng Cụ Hô Hấp
    • Cha mẹ (& Người sắp làm cha mẹ)
    • Sức Khỏe Tâm Thần và Cúm
    • Người có Vấn đề về Sức khỏe
    • Người Cao Tuổi
    • Người Chăm sóc
    • Người Du hành
  • Dành cho Các Chuyên Gia
    • Lập Kế Hoạch Cho Cơ Sở Kinh Doanh
    • Lập Kế Hoạch Cho Cộng Đồng
    • Lập Kế Hoạch Cho Trường Học
    • Lập Kế hoạch Vận chuyển
    • Chuyên Gia Y Tế
    • State & Local Government
    • Chính Quyền Liên Bang
    • Global Activities
    • Research Activities

Đánh dấu trang và Chia sẻ

Tăng kích cỡ văn bản Giảm kích cỡ văn bản cỡ chữ Bản Để In Bản Để In Cập Nhật Qua Email Cập Nhật Qua Email Twitter Twitter Facebook Facebook YouTube YouTube RSS RSS

Trang Chủ về Bệnh Cúm > Dành cho các Cá nhân & Gia đình > Phòng ngừa & Điều trị > Dược Phẩm & Thuốc Kháng Vi-rút

Các Khuyến Cáo Tạm Thời Đã Được Cập Nhật về Việc Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút trong Điều Trị và Phòng Ngừa Cúm trong Mùa Cúm 2009-2010

Ngày 07 Tháng Mười Hai năm 2009, 5:00 Chiều - Giờ Miền Đông

Trong Trang Này

  • Mục Tiêu
  • Giới Thiệu
  • Điều trị các ca nghi ngờ hoặc được xác nhận mắc cúm
  • Điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút cho những người phơi nhiễm
  • Sử dụng thuốc kháng vi-rút để kiểm soát bùng phát cúm tại các viện
  • Các phác đồ cụ thể để điều trị và điều trị dự phòng cúm
  • Các vấn đề cần cân nhắc khi kê đơn và cấp thuốc kháng vi-rút
  • Tác dụng phụ và chống chỉ định
  • Thông tin thêm

Các khuyến cáo này chứa những thông tin cập nhật sau đây:

  1. Thông tin về việc sử dụng peramivir đường tĩnh mạch theo ủy quyền sử dụng cấp cứu
  2. Thông tin về liều dùng peramivir cho người có bệnh thận
  3. Hướng dẫn cập nhật về liều dùng oseltamivir cho trẻ em dưới 1 tuổi dựa theo cân nặng
  4. Các vấn đề cần xem xét khi điều trị và điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút cho bệnh nhân đã được chủng ngừa cúm H1N1 2009 và cúm theo mùa.
  5. Hướng dẫn về điều trị theo kinh nghiệm sớm bằng thuốc kháng vi-rút cho bệnh nhân bị bệnh giống cúm tiến triển hoặc bệnh nặng, không xét đến các tình trạng bệnh lý tiềm ẩn.
  6. Hướng dẫn về điều trị theo kinh nghiệm sớm bằng thuốc kháng vi-rút đối với bệnh nhân có các tình trạng bệnh lý tiềm ẩn làm cho họ có nguy cơ bị biến chứng.
  7. Giải thích rõ về việc xem xét điều trị cho bệnh nhân đã bị bệnh quá 48 giờ

Những khuyến cáo này chú trọng vào việc sử dụng thuốc kháng vi-rút để điều trị và điều trị dự phòng cúm. Tính đến 4 Tháng Mười Hai năm 2009, vi-rút cúm A (H1N1) (H1N1 2009), là chủng vi-rút đã gây ra >99% các ca bệnh cúm ở Hoa Kỳ trong mùa cúm 2009-2010. Để biết thông tin về các loại vi-rút cúm khác, vui lòng tham khảo Trang Web của CDC. Những khuyến cáo này được cập nhật lần cuối ngày 4 Tháng Mười Hai năm 2009, và sẽ được cập nhật định kỳ khi có thông tin mới.

Mục Tiêu

Nhằm cung cấp các khuyến cáo cập nhật về việc sử dụng các tác nhân kháng vi-rút để điều trị và điều trị dự phòng cúm trong mùa cúm 2009-2010.

Giới Thiệu

Trong suốt Tháng Mười Một năm 2009, ~99% các vi-rút đã được phân theo loại (type) là vi-rút H1N1 2009. Đại đa số các vi-rút H1N1 2009 được xét nghiệm về khả năng kháng thuốc đã thể hiện tính mẫn cảm với oseltamivir và zanamivir nhưng kháng adamantanes (amantadine, rimantadine). Dữ liệu giám sát, được cập nhật hàng tuần, có tại Báo Cáo Flu View Hàng Tuần. Những khuyến cáo này sẽ được chỉnh sửa khi cần thiết để phù hợp với thông tin mới về các yếu tố nguy cơ, khả năng sẵn có thuốc kháng vi-rút và tính kháng thuốc, hoặc sự lưu hành của các vi-rút cúm mới.
 
Nhìn chung, điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, khi được chỉ định, nên được bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi khởi phát các triệu chứng giống cúm điển hình. Bệnh cúm có thể được biểu hiện qua một loạt các triệu chứng: từ viêm nhẹ đường hô hấp trên đến bệnh cảnh cấp tính đe dọa tính mạng.

  • Bệnh cảnh nhẹ hoặc không biến chứng được đặc trưng bằng những triệu chứng điển hình như sốt (mặc dù không phải ai bị cúm cũng sốt), ho, đau họng, chảy nước mũi, đau cơ, đau đầu, ớn lạnh, khó ở, đôi khi tiêu chảy và nôn, nhưng không khó thở và ít có sự thay đổi của các tình trạng bệnh lý mãn tính.
  • Bệnh cảnh tiến triển được đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình, cộng thêm các dấu hiệu hoặc triệu chứng ngụ ý rằng bệnh cảnh nặng hơn: đau ngực, thiếu ô-xy (ví dụ như thở nhanh, giảm ô-xy huyết, thở khó nhọc ở trẻ em), thiểu năng tim phổi (ví dụ như hạ huyết áp), suy giảm chức năng hệ thần kinh trung ương (ví dụ như lẫn lộn, trạng thái tâm thần bị biến đổi), mất nước nghiêm trọng, hoặc các tình trạng bệnh mãn tính trở nên trầm trọng (ví dụ như hen, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, suy thận mãn tính, tiểu đường hoặc các tình trạng bệnh lý tim mạch khác).
  • Bệnh cảnh nặng hoặc biến chứng được đặc trưng bởi các dấu hiện bệnh đường hô hấp dưới (ví dụ như giảm ô-xy huyết cần phải bổ sung ô-xy, X-quang ngực bất thường, thông khí cơ học), các dấu hiệu của bệnh hệ thần kinh trung ương (bệnh não, viêm não), các biến chứng của hạ huyết áp (sốc, suy tạng), viêm cơ tim hoặc tiêu cơ vân, hoặc nhiễm khuẩn xâm lấn thứ phát dựa vào xét nghiệm của phòng thí nghiệm hoặc các dấu hiệu lâm sàng (chẳng hạn như sốt cao liên tục và các triệu chứng khác quá ba ngày).

Vi-rút cúm đang lây truyền từ người sang người chủ yếu thông qua việc tiếp xúc với dịch tiết hô hấp của người bệnh, đặc biệt là các giọt nhỏ lơ lửng trong không khí sinh ra khi ho hoặc hắt hơi. Sự tái tạo và phát tán của vi-rút là yếu tố chính cần xem xét khi quyết định về thời gian điều trị, kiểm soát lây nhiễm, và điều trị dự phòng. Nhìn chung, thời kỳ ủ bệnh của cúm được ước tính kéo dài từ 1 đến 4 ngày, trung bình là 2 ngày. Vi-rút cúm phát tán (khoảng thời gian mà một người có thể làm lây bệnh cho những người khác) bắt đầu từ ngày trước ngày khởi phát bệnh và có thể kéo dài 5 đến 7 ngày, mặc dù một số người có thể phát tán vi-rút trong một giai đoạn dài hơn, đặc biệt là trẻ nhỏ và những người có hệ miễn dịch bị suy giảm. Lượng vi-rút phát tán là lớn nhất trong vòng 2-3 ngày đầu mắc bệnh và dường như có tương quan với sốt, lượng vi-rút phát tán lớn hơn khi thân nhiệt cao nhất. Tuy nhiên, trong những khuyến cáo này, thời kỳ lây nhiễm cúm được xác định là một ngày trước khi bắt đầu sốt cho đến 24 giờ sau khi đã hết sốt.

đầu trang

Điều Trị Các Ca Nghi Ngờ Hoặc Được Xác Nhận Mắc Cúm

Điều trị cho ai

Khuyến cáo điều trị sớm theo kinh nghiệm đối với những người nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm và:

  • Bệnh cảnh đòi hỏi phải nhập viện
  • Bệnh cảnh tiến triển, nghiêm trọng hoặc có biến chứng, không xét đến tình trạng sức khỏe trước đó, và/hoặc
  • Bệnh nhân có nguy cơ bị bệnh nặng (xem các nhóm có nguy cơ cao dưới đây)

Điều trị như thế nào

  • Thuốc kháng vi-rút: oseltamivir (thuốc uống), zanamivir (thuốc hít)
  • Để biết hướng dẫn cụ thể về liều dùng, vui lòng xem bảng 1 dưới đây
  • Bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi khởi phát triệu chứng
  • Điều trị theo kinh nghiệm trước khi có báo cáo về kết quả xét nghiệm chẩn đoán
  • Khi có chỉ định chẩn đoán xác định, hãy yêu cầu các xét nghiệm chẩn đoán xác định (rRT-PCR*, cấy vi-rút) thay vì các xét nghiệm nhanh (RIDT*, DFA*)

* rRT-PCR: phản ứng chuỗi trùng hợp phiên mã ngược thời gian thực ; RIDT: xét nghiệm chẩn đoán cúm nhanh, DFA: xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp

đầu trang

Các Thuốc Kháng Vi-rút Để Điều Trị Cúm

Các chất ức chế neuraminidase là các thuốc được lựa chọn để điều trị cúm H1N1 2009 và bệnh giống cúm ở cả trẻ em và người lớn tại Hoa Kỳ vào thời điểm này.

Oseltamivir - Chất ức chế neuraminidase oseltamivir được bào chế theo công thức viên nang hoặc huyền dịch uống (Tamiflu®) được FDA phê chuẩn để điều trị cho những bệnh nhân mắc cúm cấp tính không biến chứng từ 1 tuổi trở lên và đã có triệu chứng không quá 2 ngày. FDA đã ban hành một Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu (EUA) cho phép điều trị bằng oseltamivir đối với bệnh nhân dưới 1 tuổi nhiễm cúm H1N1 2009. Ngoài ra, EUA cho phép điều trị cho những bệnh nhân có triệu chứng cúm H1N1 2009 trên 2 ngày và những bệnh nhân có bệnh cảnh đủ nặng để đòi hỏi phải nhập viện (xem www.cdc.gov/h1n1flu/eua/tamiflu.htm).

Zanamivir - Chất ức chế neuraminidase zanamivir được bào chế theo công thức bột hít vào qua đường miệng (Relenza®) được FDA phê chuẩn để điều trị cúm ở bệnh nhân từ 7 tuổi trở lên mà, tương tự như phê duyệt sử dụng đối với oseltamivir, có bệnh cảnh không biến chứng và đã có triệu chứng không quá 2 ngày. Cũng giống như với oseltamivir, FDA đã ban hành EUA cho phép điều trị bằng zanamivir đối với những bệnh nhân cúm H1N1 2009 mà đã có triệu chứng trên 2 ngày và những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng đến mức cần phải nhập viện. (xem www.cdc.gov/h1n1flu/eua/relenza.htm ).

Peramivir - Chất ức chế neuraminidase peramivir thứ ba được bào chế theo công thức dùng qua đường tĩnh mạch (IV) là một sản phẩm đang nghiên cứu và hiện đang được đánh giá trên thử nghiệm lâm sàng. Tính đến Tháng Mười năm 2009, dữ liệu về độ an toàn và /hoặc hiệu lực trên 1.891 bệnh nhân mắc cúm theo mùa A cấp tính không biến chứng đã được báo cáo cho FDA. Chưa thực hiện đánh giá tính hiệu lực và độ an toàn ở bệnh nhân nhập viện. Mặc dù chưa có đủ dữ liệu để FDA phê duyệt, nhưng FDA đã ban hành một EUA cho phép điều trị bằng peramivir đối với bệnh nhân nhập viện nhiễm cúm H1N1 2009 mà có tình trạng bệnh được nghi ngờ hoặc được phòng thí nghiệm xác nhận là có khả năng đe dọa tính mạng. Peramivir IV sẵn có thông qua CDC khi có yêu cầu của một bác sĩ điều trị được cấp phép. Theo EUA, việc điều trị cho những bệnh nhân là người lớn bằng IV peramivir chỉ được phê chuẩn nếu như: (1) bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp thuốc kháng vi-rút dùng theo đường uống hoặc hít; (2) thuốc đưa vào theo đường khác ngoài đường tiêm truyền tĩnh mạch được dự kiến là không đáng tin cậy hoặc không khả thi; hoặc (3) bác sĩ lâm sàng đánh giá rằng liệu pháp tiêm truyền tĩnh mạch (IV) là phù hợp do các tình trạng khác. Việc điều trị cho bệnh nhi được phê chuẩn nếu như một trong hai tiêu chí đầu tiên được áp dụng.

đầu trang

Những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng, biến chứng hoặc tiến triển hoặc những người được nhập viện

Việc điều trị được khuyến cáo đối với những bệnh nhân được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm cúm H1N1 2009 mà có bệnh cảnh nặng, biến chứng hoặc tiến triển hoặc những người được nhập viện. Thời gian điều trị khuyến cáo là 5 ngày. Những bệnh nhân nhập viện bị nhiễm bệnh nặng (chẳng hạn như những người bị nhiễm bệnh kéo dài hoặc những người phải đưa vào khu điều trị tích cực) có thể cần được điều trị dài hơn. Mặc dù việc điều trị có hiệu quả nhất khi được bắt đầu trong vòng 48 giờ kể từ khi ngã bệnh, nhưng dữ liệu hạn chế từ các nghiên cứu theo dõi ở những bệnh nhân nhập viện cho thấy rằng điều trị ở những người có bệnh cảnh nặng hoặc kéo dài giúp làm giảm tỷ lệ tử vong hoặc thời gian nằm viện ngay cả khi việc điều trị được bắt đầu muộn hơn 48 giờ kể từ khi khởi phát bệnh. Liều dùng thuốc kháng vi-rút được khuyến cáo trong điều trị cúm H1N1 2009 ở người lớn và trẻ em từ 1 tuổi trở lên cũng giống như liều dùng khuyến cáo đối với cúm theo mùa (Bảng 1). Một số chuyên gia đã tán thành việc tăng liều oseltamivir cao gấp đôi đối với những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng, mặc dù không có dữ liệu được công bố nào chứng tỏ rằng liều cao hơn mang lại hiệu quả cao hơn. Đối với những bệnh nhân không thể dùng thuốc qua đường miệng hoặc những người mà thuốc dùng qua đường miệng tỏ ra không hiệu quả, thì peramivir dùng qua đường tĩnh mạch sẵn có thông qua CDC theo Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu của FDA, mặc dù các nghiên cứu về tính hiệu quả và độ an toàn vẫn còn hạn chế. Để biết thêm thông tin về điều trị đối với bệnh nhân nhập viện, vui lòng xem “Các Lựa Chọn Điều Trị bằng Thuốc Kháng Vi-rút, bao gồm Peramivir Dùng Theo Đường Tĩnh Mạch, để Điều Trị Cúm ở Bệnh Nhân Nhập Viện trong Mùa Cúm 2009-2010” và "Các Khuyến Cáo Cập Nhật dành cho Nhà Cung Cấp Dịch Vụ Y Tế cho Trẻ Em và Người Vị Thành Viên về việc Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút để Kiểm Soát Cúm H1N1 2009 và Cúm Theo Mùa trong Mùa Cúm 2009-2010".

Những Bệnh Nhân Có Nguy Cơ Cao Bị Biến Chứng

Khuyến cáo điều trị ngay lập tức bằng thuốc kháng vi-rút theo kinh nghiệm đối với những người được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm cúm mà có nguy cơ cao bị bị mắc bệnh nặng và tử vong. Dựa theo dữ liệu hiện có, khoảng 70% số người nhập viện nhiễm H1N1 2009 thuộc một hoặc nhiều nhóm sau:

  • Trẻ em (xem dưới đây) dưới 2 tuổi
  • Người lớn từ 65 tuổi trở lên
  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ trong giai đoạn tối đa 2 tuần hậu sản (không xét đến việc thai kỳ chấm dứt theo cách nào [sinh con sống, chấm dứt thai kỳ, sinh non, sảy thai, thai chết lưu])
  • Những người có các tình trạng bệnh lý cụ thể, được mô tả dưới đây.

Trẻ em: Trẻ em dưới 2 tuổi có nguy cơ cao bị biến chứng liên quan đến cúm và có nguy cơ phải nhập viện cao hơn so với trẻ lớn hơn. Trẻ em từ 2 đến 4 tuổi thường dễ phải nhập viện hoặc cần phải được đánh giá y tế khẩn cấp do cúm so với trẻ lớn hơn, mặc dù nguy cơ là thấp hơn nhiều so với trẻ dưới 2 tuổi. Từ Tháng Tư đến Tháng Chín năm 2009, tỷ lệ nhập viện vì cúm H1N1 2009 được phòng thí nghiệm xác nhận cao gấp 4,5 lần ở trẻ < 2 tuổi, cao gấp 2 lần ở trẻ từ 2-4 tuổi, và cao gấp 1,6 lần ở trẻ 5-17 tuổi so với người lớn (xem Báo Cáo Flu View Hàng Tuần). Tháng Tư năm 2009, FDA cho phép sử dụng oseltamivir ở trẻ em dưới 1 tuổi theo một Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu (EUA) nhằm ứng phó với tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng hiện tại có liên quan đến cúm H1N1 2009. Việc sử dụng oseltamivir ở trẻ em dưới 1 tuổi phải tuân theo các điều khoản và điều kiện của EUA. Dữ liệu về độ an toàn trong quá khứ của việc điều trị cúm theo mùa ở trẻ em dưới 1 tuổi bằng oseltamivir chỉ có với số lượng hạn chế, và cho thấy rằng các phản ứng phụ nghiêm trọng là hiếm gặp. Dữ liệu trong tương lai về độ an toàn và tính hiệu quả của oseltamivir đối với nhóm tuổi này sẽ tiếp tục được thu thập. Liều dùng cho trẻ em dưới 1 tuổi được dựa theo hướng dẫn của EUA. Chi tiết được cung cấp tại Bảng 1 dưới đây. (Xem thêm: Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu Tamiflu (oseltamivir) có tại /h1n1flu/eua/). Trẻ em và người vị thành niên dưới 19 tuổi đang được nhận liệu pháp aspirin dài hạn cũng có nguy cơ cao. Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng xem "Các Khuyến Cáo Cập Nhật dành cho Nhà Cung Cấp Dịch Vụ Y Tế cho Trẻ Em và Người Vị Thành Viên về việc Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút để Kiểm Soát Cúm H1N1 2009 và Cúm Theo Mùa trong Mùa Cúm 2009-2010.

đầu trang

Người lớn từ 65 tuổi trở lên: Mặc dù những người từ 65 tuổi trở lên ít bị nhiễm cúm H1N1 2009 hơn so với người trẻ tuổi, nhưng khi mắc cúm, họ có nguy cơ cao hơn bị các biến chứng nặng liên quan đến cúm.

Phụ Nữ Mang Thai: Thai kỳ làm tăng nguy cơ biến chứng, nhập viện và bệnh cảnh nặng. Một nghiên cứu ước tính rằng nguy cơ nhập viện do H1N1 2009 ở phụ nữ mang thai cao gấp bốn lần so với toàn thể dân cư. (Jamieson DJ, và công sự. Lancet. 2009;374:451-458). Mặc dù oseltamivir và zanamivir là các thuốc “Loại C Đối Với Thai Kỳ” có nghĩa là chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được thực hiện để đánh giá độ an toàn của những thuốc này đối với phụ nữ mang thai, nhưng những dữ liệu hiện có cho thấy rằng phụ nữ mang thai nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm nên được nhận liệu pháp kháng vi-rút kịp thời, và việc mang thai không nên được coi là chống chỉ định đối với oseltamivir và zanamivir. Oseltamivir được ưa dùng hơn để điều trị cho phụ nữ mang thai do hoạt động hệ thống của thuốc. Các báo cáo không chính thức cho biết phụ nữ sau khi sinh, cũng giống như phụ nữ mang thai, có thể có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng và tử vong do cúm H1N1 2009. Việc chuyển đổi về trạng thái bình thường của chức năng miễn dịch, tim và hô hấp xảy ra nhanh, nhưng không phải ngay lập tức sau khi sinh đẻ. Vì vậy, nguy cơ gia tăng có liên quan đến thai kỳ nên được coi là kéo dài cho tới 2 tuần hậu sản, không xét đến kết quả của thai kỳ (bao gồm đẻ con sống, đẻ non, chấm dứt thai kỳ, sảy thai, thai chết lưu). Điều trị ngay lập tức bằng thuốc kháng vi-rút theo kinh nghiệm được chỉ định đối với các ca nghi ngờ hoặc được xác định nhiễm cúm H1N1 2009 ở phụ nữ mang thai đang trong thời kỳ tối đa 2 tuần hậu sản không xét đến việc thai kỳ chấm dứt theo cách nào.

Các tình trạng bệnh lý: Các tình trạng bệnh lý sau có liên quan đến nguy cơ cao bị biến chứng do cúm:

  • Bệnh hen
  • Các tình trạng về thần kinh và thần kinh phát triển [bao gồm các rối loạn về não, tủy sống, thần kinh ngoại biên và cơ ((chẳng hạn như bại não, động kinh (rối loạn co giật), đột quỵ, thiểu năng trí tuệ (chậm phát triển trí tuệ), chậm phát triển từ mức trung bình tới nghiêm trọng, loạn dưỡng cơ, hoặc chấn thương tủy sống].
  • Bệnh phổi mãn tính (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) và xơ nang)
  • Bệnh tim (như bệnh tim bẩm sinh, suy tim sung huyết và bệnh động mạch vành)
  • Các rối loạn máu (như bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm)
  • Các rối loạn nội tiết (như tiểu đường )
  • Rối loạn chức năng thận
  • Rối loạn chức năng gan
  • Các rối loạn chuyển hóa (như các rối loạn chuyển hóa do di truyền và rối loạn ty lạp thể)
  • Suy giảm hệ miễn dịch do bệnh hoặc do dùng thuốc (chẳng hạn như người nhiễm HIV hoặc AIDS, hoặc ung thư, hoặc những người điều trị steriod dài hạn)
  • Người dưới 19 tuổi đang được áp dụng liệu pháp aspirin dài hạn

Cơ quan quản lý y tế công cộng địa phương có thể cung cấp hướng dẫn bổ sung về việc ưu tiên điều trị cho các nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh nặng.

đầu trang

Đánh Giá Lâm Sàng

Mặc dù hầu hết mọi người được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm cúm H1N1 2009 đều có bệnh cảnh đường hô hấp nhẹ, không biến chứng và tự giới hạn tương tự như cúm theo mùa điển hình, và mặc dù những người không được cho là có nguy cơ cao tiến triển bệnh cảnh nặng và biến chứng có thể khồng cần phải điều trị, nhưng họ vẫn có thể được xem xét để điều trị bằng thuốc kháng vi-rút. Lợi ích của việc điều trị đối với những bệnh nhân này có thể bao gồm việc rút ngắn thời gian mắc bệnh. Tuy nhiên theo kinh nghiệm điều trị cúm theo mùa, đối với những bệnh nhân không được coi là có nguy cơ cao tiến triển bệnh cảnh nặng hoặc biến chứng và họ lại có bệnh cảnh nhẹ, không biến chứng thì việc điều trị dường như không mang lại lợi ích, nếu như việc điều trị được bắt đầu muộn hơn 48 giờ kể từ khi khởi phát bệnh. Đánh giá lâm sàng luôn là một phần thiết yếu trong các quyết định điều trị.

Những người hiện đang bình phục sau cúm thì không cần điều trị bằng thuốc kháng vi-rút. Cần xem xét thận trọng các lựa chọn để theo dõi chặt chẽ. Những bác sĩ lâm sàng ưa dùng cách không điều trị theo kinh nghiệm nên thảo luận các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh cảnh xấu đi với bệnh nhân và thu xếp việc theo dõi ít nhất là qua điện thoại.

Thuật toán lâm sàng để xem xét khi đánh giá những người có bệnh cảnh cúm nhẹ hoặc không biến chứng
Thuật Toán Lâm Sàng

đầu trang

Bắt Đầu Điều Trị

Việc điều trị nên được bắt đầu theo kinh nghiệm dựa vào đánh giá lâm sàng càng sớm càng tốt, thậm chí trước khi có kết quả xét nghiệm chẩn đoán xác định, tức là không nên đợi xác nhận cúm của phòng thí nghiệm rồi mới điều trị. Việc điều trị có hiệu quả nhất nếu được bắt đầu trong vòng 48 giờ đầu ngã bệnh. Tuy nhiên, như đã nêu trên đây, các bằng chứng cho thấy rằng điều trị có thể đem lại lợi ích cho những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng hoặc kéo dài ngay cả khi bắt đầu điều trị muộn hơn 48 giờ kể từ khi khởi phát bệnh.

  • Xét nghiệm xác định đối với H1N1 2009 đòi hỏi phải thực hiện phản ứng chuỗi trùng hợp phiên mã ngược thời gian thực (rRT-PCR) hoặc cấy vi-rút. Những xét nghiệm này nên được ưu tiên cho những người nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm cần phải nhập viện và dựa theo hướng dẫn của sở y tế địa phương và tiểu bang.
  • Không được sử dụng Xét Nghiệm Chẩn Đoán Cúm Nhanh (RIDTs) để loại trừ khả năng mắc cúm, bởi vì thường có kết quả âm tính giả. Độ nhậy của các xét nghiệm nhanh trong việc phát hiện H1N1 2009 dao động từ 10% đến 70%. Các bác sĩ lâm sàng không nên trì hoãn việc điều trị dựa vào quả xét nghiệm nhanh âm tính. Thông tin về việc sử dụng xét nghiệm chẩn đoán cúm nhanh (RIDTs) cũng sẵn có trực tuyến.

Các cách giúp giảm sự chậm trễ trong việc bắt đầu điều trị bao gồm:

  • Thông báo cho những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm về các dấu hiệu và triệu chứng của cúm và sự cần thiết phải điều trị sớm sau khi khởi phát triệu chứng.
  • Bảo đảm khả năng tiếp cận nhanh với dịch vụ tư vấn qua điện thoại và đánh giá lâm sàng đối với những bệnh nhân này cũng như những bệnh nhân có bệnh cảnh nặng.
  • Xem xét điều trị theo kinh nghiệm đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm thông qua liên hệ qua điện thoại nếu như không có chỉ định nhập viện và nếu như điều này sẽ làm giảm đáng kể sự chậm trễ trước khi điều trị.
  • Yêu cầu những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ y tế nếu các dấu hiệu và triệu chứng tiến triển, lấy thuốc càng sớm càng tốt nếu được nhà cung cấp dịch vụ y tế kê toa, và bắt đầu điều trị. Nhà cung cấp dịch vụ y tế nên xem xét khả năng có thể tin cậy, khả năng hiểu các thông tin về triệu chứng của cúm, và khả năng tiếp cận với nhà thuốc của bệnh nhân khi cân nhắc các cách giảm sự chậm trễ điều trị.
  • Tư vấn cho bệnh nhân về các lợi ích và tác dụng phụ của thuốc kháng vi-rút cúm, khả năng tiếp tục bị nhiễm vi-rút cúm sau khi hoàn tất liệu trình điều trị (do các loại vi-rút cúm khác đang lưu hành hoặc nếu bệnh là do một nguyên nhân khác), và sự cần thiết phải quay lại để tiếp tục được được tư vấn y tế sớm nếu các triệu chứng tái phát.
  • Đối với những người đã phơi nhiễm cúm, chú trọng vào việc theo dõi chặt các triệu chứng và điều trị sớm thay vì điều trị dự phòng. Những người trong gia đình hoặc tiếp xúc gần (mà có các yếu tố nguy cơ bị biến chứng do cúm) với những trường hợp nghi ngờ hoặc được xác nhận mắc cúm có thể được tư vấn về các dấu hiệu và triệu chứng sớm của cúm, và được khuyên nên liên hệ ngay lập tức với nhà cung cấp dịch vụ y tế của họ để được đánh giá và điều trị sớm khi có chỉ định nếu các triệu chứng hoặc dấu hiệu lâm sàng tiến triển.

Các Biện Pháp Kiểm Soát Lây Nhiễm dành cho Những Bệnh Nhân Đã Được Điều Trị Cúm

Làm theo các khuyến cáo để giảm thiểu phơi nhiễm với những bệnh nhân đã nhiễm bệnh. Để biết các khuyến cáo chi tiết hơn, xem "Điều Trị Dự Phòng Bằng Thuốc Kháng Vi-rút Cho Những Người Đã Phơi Nhiễm."

đầu trang

Giảm Bớt Lây Nhiễm Từ Những Người Nhiễm Bệnh

Giai đoạn lây nhiễm của bệnh cúm được định nghĩa ở phần Giới Thiệu. Bởi vì một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều trị rút ngắn thời gian và làm giảm cường độ phát tán vi-rút, cho nên việc điều trị cũng có thể giảm bớt mức độ lây nhiễm. Tuy nhiên, những người có triệu chứng mà đang được điều trị nên được tư vấn rằng họ vẫn có khả năng lây nhiễm cho những người khác trong quá trình điều trị. Cho dù được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, bệnh nhân vẫn tiếp tục phát tán vi-rút cúm cho tới bốn ngày hoặc lâu hơn sau khi bắt đầu liệu pháp. Vì vậy, bệnh nhân nên duy trì quy ước vệ sinh khi ho, vệ sinh hô hấp và thực hành rửa tay đúng cách trong suốt giai đoạn thực hiện liệu pháp để tránh lây truyền vi-rút cho những người tiếp xúc gần.

Trong nội dung của tài liệu này, tiếp xúc gần có nghĩa là đã chăm sóc hoặc sống cùng với một người được xác nhận, có thể hoặc nghi ngờ nhiễm cúm, hoặc đã từng ở trong một môi trường mà ở đó có nhiều khả năng đã tiếp xúc với các giọt bắn ra từ đường hô hấp và/hoặc dịch cơ thể của người đó. Ví dụ về tiếp xúc gần bao gồm việc dùng chung bộ đồ ăn hoặc uống, hoặc các hình thức tiếp xúc khác giữa người với người mà có thể dẫn đến việc phơi nhiễm các giọt bắn ra từ đường hô hấp. Tiếp xúc gần thường không bao gồm các hoạt động như đi bên cạnh một người nhiễm bệnh hoặc ngồi chếch với một bệnh nhân có triệu chứng trong một phòng đợi hoặc phòng mạch.

Nhân viên y tế nên chỉ dẫn cho bệnh nhân của mình về những cách thức ứng xử này. Chi tiết thêm về các phương pháp kiểm soát lây nhiễm dành cho các cá nhân để phòng ngừa nhiễm bệnh do nghề nghiệp, và dành cho các cơ quan được trình bày dưới đây.

Bảo vệ đối với nhân viên y tế

Các khuyến cáo chính để bảo vệ nhân viên y tế khỏi nhiễm vi-rút cúm bao gồm:

  • Nên thiết lập các biện pháp quản lý hành chính thích hợp (như là để cho nhân viên y tế nghỉ ở nhà khi bị bệnh và phân loại theo nhu cầu chăm sóc y tế để xác định các bệnh nhân có khả năng lây nhiễm), vệ sinh hô hấp và vệ sinh tay, thiết bị bảo hộ cá nhân, và chủng ngừa để giảm bớt nguy cơ phơi nhiễm hoặc mắc bệnh cho nhân viên y tế và những người ứng phó ban đầu.
  • Để biết thêm thông tin, vui lòng xem "Hỏi và Đáp về Hướng Dẫn Tạm Thời của CDC về Các Biện Pháp Kiểm Soát Lây Nhiễm Cúm H1N1 2009 tại Cơ Sở Y Tế, Bao Gồm Cả Việc Bảo Vệ cho Nhân Viên Y Tế"

đầu trang

Các Vấn Đề Cần Xem Xét Thêm khi Điều Trị

Trẻ Em và Thuốc Trị Cảm Lạnh Không Cần Kê Toa, Bao Gồm Cả Aspirin

Không được sử dụng aspirin hoặc các sản phẩm chứa aspirin (như bismuth subsalicylate - PeptoBismol) cho mọi trẻ em hoặc người vị thành niên dưới 19 tuổi được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm cúm, vì có nguy cơ mắc hội chứng Reye. Để hạ sốt, nên sử dụng các thuốc hạ sốt khác như acetaminophen hoặc các thuốc kháng viêm không chứa steroid. Trẻ em dưới 4 tuổi không được dùng thuốc trị cảm lạnh không cần kê toa mà không tham vấn trước nhà cung cấp dịch vụ y tế.

Đã Từng Chủng Ngừa Cúm H1N12009 hoặc Cúm Theo Mùa

Vi-rút cúm theo mùa cũng có thể lưu hành và gây bệnh trong mùa cúm 2009-2010 này, có thể vào cùng thời điểm xảy ra các đợt bùng phát H1N1 2009. Mức độ nghiêm trọng, số ca bệnh và thời gian mắc bệnh mà vi-rút H1N1 2009 và vi-rút cúm theo mùa sẽ gây ra còn chưa được biết chắc. Tháng Mười năm 2009, vắc-xin cúm đơn trị 2009 H1N1 dạng sống được giảm độc lực đã có tại Hoa Kỳ.. Tất cả mọi người thuộc các nhóm mục tiêu khuyến cáo chủng ngừa nên chùng ngừa bằng vắc-xin đơn trị H1N1 2009 và vắc-xin cúm theo mùa.

Vắc-xin cúm theo mùa sẽ không bảo vệ khỏi nhiễm cúm H1N1 2009 hoặc ngược lại. Hơn nữa, những vắc-xin này không đạt hiệu quả chống nhiễm bệnh 100%. Ngoài ra, vắc-xin không có tác dụng ngay lập tức sau khi chủng ngừa. Phải cần ít nhất là 2 tuần để vắc-xin có tác dụng. Vì vậy, việc đã từng chủng ngừa trước đây không loại trừ khả năng mắc cúm. Đã từng chủng ngừa trước đây không phải là yếu tố chống chỉ định đối với điều trị bằng thuốc kháng vi-rút.

Các khuyến cáo điều trị đối với những người lớn đã chủng ngừa nên được áp dụng giống như các khuyến cáo đối với người chưa chủng ngừa.

Những người được chủng ngừa bằng vắc-xin cúm sống giảm độc lực mà lại được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút trong vòng 48 giờ trước hoặc cho tới hai tuần sau khi chủng ngừa có thể không phát triển được miễn dịch và cần được chủng ngừa lại.

đầu trang

Bội Nhiễm Vi Khuẩn

Các bác sĩ lâm sàng được nhắc nhở phải xem xét khả năng bội nhiễm vi khuẩn trong hoặc sau khi nhiễm cúm. Vì vậy, để điều trị theo kinh nghiệm đối với viêm phổi mắc phải tại cộng đồng, khi mà cúm đang lưu hành tại cộng đồng và bác sĩ lâm sàng tin rằng cúm có thể gây ra hoặc xảy ra cùng với viêm phổi mắc phải tại cộng đồng thì nên sử dụng oseltamivir và thuốc kháng sinh. (Xem Hướng Dẫn Chung của Hiệp Hội Bệnh Lây Nhiễm Hoa Kỳ/Hiệp Hội Các Bệnh Lồng Ngực Hoa Kỳ về Kiểm Soát Bệnh Phổi Mắc Phải tại Cộng Đồng ở Người Lớn. Các Bệnh Lây Nhiễm Lâm Sàng 2007;44:S27-72).

Điều trị cúm khi vi-rút kháng oseltamivir đang lưu hành

Kháng Oseltamivir thường thấy ở vi-rút cúm theo mùa A (H1N1). Những vi-rút này thường duy trì tính mẫn cảm với zanamivir, rimantadine, và amantadine. Tuy nhiên, kể từ Tháng Tư năm 2009, có rất ít vi-rút cúm theo mùa H1N1 lưu hành tại Hoa Kỳ. Vì vậy, việc điều trị, khi có chỉ định, bằng oseltamivir hoặc zanamivir là thích hợp. Tuy nhiên, nếu số liệu giám sát vi-rút chỉ ra rằng vi-rút cúm theo mùa H1N1 kháng oseltamivir đã trở nên phổ biến hơn hoặc có liên quan đến các đợt bùng phát trong cộng đồng đã được xác nhận, thì nên xem xét sử dụng zanamivir hoặc kết hợp giữa oseltamivir và rimantadine hoặc amantadine để điều trị theo kinh nghiệm đối với những bệnh nhân có thể đã nhiễm vi-rút cúm theo mùa ở người A (H1N1) kháng oseltamivir. Số liệu giám sát quốc gia về các loại vi-rút đang lưu hành tại Hoa Kỳ có hàng tuần tại Báo Cáo Flu View Hàng Tuần. Các cơ quan y tế địa phương và tiểu bang cũng là một nguồn cung cấp số liệu giám sát cúm tại một số khu vực. Hướng dẫn về các khuyến cáo điều trị theo kinh nghiệm khi nhiều chủng cúm cùng lưu hành có tại "CDC Ban Hành các Khuyến Cáo về việc Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút cúm trong Trường Hợp Có Hiện Tượng Kháng Oseltamivir trong Các Vi-rút Cúm A (H1N1) Đang Lưu Hành, Mùa Cúm 2008-09".

đầu trang

Điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút cho những người phơi nhiễm

Các định nghĩa được sử dụng, những người được điều trị dự phòng

Giai đoạn lây nhiễm

  • Một ngày trước khi bắt đầu sốt cho tới 24 giờ sau khi hết sốt.

Tiếp xúc gần, được xác định theo các phương thức lây truyền có thể xảy ra

  • Các bề mặt niêm mạc (như mũi, miệng, mắt) phơi nhiễm các giọt bắn ra của dịch tiết hô hấp do ho hoặc hắt hơi
  • Tiếp xúc, thường là bằng tay, với bệnh nhân nhiễm bệnh hoặc đồ vật nhiễm mầm bệnh (những bề mặt nhiễm dịch tiết) rồi sau đó lại làm nhiễm vi-rút vào các bề mặt niêm mạc của chính mình như niêm mạc mũi, miệng và mắt; và
  • Các hạt nhỏ được phun ra lơ lửng xung quanh người nhiễm bệnh.

đầu trang

Những người có thể được xem xét để điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút

  • Những người sau đây mà là người tiếp xúc gần với một người nghi ngờ hoặc được xác nhận nhiễm cúm H1N1 2009 trong giai đoạn lây nhiễm:
    • Những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm;
    • Nhân viên dịch vụ y tế cấp cứu và chăm sóc sức khỏe;
    • Phụ nữ mang thai.

Những người không được điều trị dự phòng

  • Các nhóm trẻ em hoặc người lớn khỏe mạnh, dựa trên khả năng phơi nhiễm tại cồng đồng, nơi làm việc, trường học, trại hoặc các môi trường khác;
  • Nếu đã quá 48 giờ kể từ lần tiếp xúc gần nhất
  • Việc tiếp xúc gần không xảy ra trong giai đoạn lây nhiễm

Cách thức điều trị dự phòng

  • Thuốc kháng vi-rút: oseltamivir (thuốc uống), zanamivir (thuốc hít)
  • Để có hướng dẫn cụ thể về liều dùng, vui lòng xem bảng 1 và 2 dưới đây

Xem xét điều trị sớm thay vì điều trị dự phòng

Thuốc Kháng Vi-rút dùng trong Điều Trị Dự Phòng

Các chất ức chế neuraminidase, oseltamivir và zanamivir là những thuốc được chọn để điều trị dự phòng cho trẻ em và người lớn phơi nhiễm cúm H1N1 2009 tại Hoa Kỳ vào thời điểm này. Oseltamivir công thức dạng viên nang hoặc huyền dịch uống (Tamiflu®) được FDA phê chuẩn để điều trị dự phòng cúm cho bệnh nhân từ 1 tuổi trở lên. FDA đã ban hành một Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu để điều trị dự phòng bằng oseltamivir cho bệnh nhân dưới 1 tuổi (xem www.cdc.gov/h1n1flu/eua/tamiflu.htm). Zanamivir công thức dạng bột hít vào qua đường miệng (Relenza®) được FDA phê chuẩn để điều trị dự phòng cúm ở bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên. Thời gian điều trị dự phòng là 10 ngày. Các khuyến cáo về điều trị dự phòng cúm H1N1 2009 đang lưu hành bằng những loại thuốc này được trình bày dưới đây cũng như trong Tờ Thông Tin được lập theo Ủy Quyền Sử Dụng Cấp Cứu (xem Rrelenza Và Tamiflu ).

Điều Trị Sớm Thay Vì Điều Trị Dự Phòng

Chú trọng vào việc phát hiện bệnh sớm và bắt đầu điều trị ngay lập tức thay vì điều trị dự phòng sau khi nghi ngờ phơi nhiễm.

  • Những người có các yếu tố nguy cơ bị biến chứng do cúm mà là người tiếp xúc trong nhà hoặc tiếp xúc gần với các trường hợp được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh, và nhân viên y tế có phơi nhiễm trong khi làm việc, có thể được tư vấn về các dấu hiệu và triệu chứng sớm của cúm, và được khuyên nên liên hệ ngay lập tức với nhà cung cấp dịch vụ y tế của họ để được đánh giá và điều trị sớm khi có chỉ định nếu các triệu chứng hoặc dấu hiệu lâm sàng tiến triển.
  • Nhà cung cấp dịch vụ y tế nên sử dụng đánh giá lâm sàng trong các hoàn cảnh mà việc phát hiện bệnh và điều trị sớm có thể là một lựa chọn phù hợp thay thế cho điều trị dự phòng.
  • Nên ưu tiên phát hiện bệnh và điều trị sớm khi được chỉ định hơn là điều trị dự phòng đối với những người khỏe mạnh đã chủng ngừa, kể cả nhân viên y tế, sau một lần nghi ngờ phơi nhiễm.

Những bệnh nhân được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm nên được thông báo rằng việc điều trị dự phòng làm giảm bớt chứ không loại trừ được nguy cơ mắc cúm và rằng khả năng bảo vệ sẽ chấm dứt khi kết thúc thời kỳ dùng thuốc. Những bệnh nhân được điều trị dự phòng nên được khuyến khích đi khám càng sớm càng tốt ngay khi họ tiến triển bệnh cảnh đường hô hấp có sốt mà đó có thể là bệnh cúm.

đầu trang

Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút Để Kiểm Soát Bùng Phát Cúm Tại Các Viện

Sử dụng thuốc kháng vi-rút để điều trị và điều trị dự phòng cúm là nền tảng cho việc kiểm soát sự bùng phát của cúm theo mùa tại các khu điều dưỡng và cơ sở chăm sóc dài hạn khác có chứa một số lượng lớn bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm (Xem MMWR: Phòng Ngừa và Kiểm Soát Cúm: Các Khuyến Cáo của Ủy Ban Tư Vấn về Quy Trình Phòng Ngừa Miễn Dịch (ACIP), 2008). Tính đến 29 Tháng Mười năm 2009, chưa có đợt bùng phát H1N1 2009 nào được báo cáo tại các khu điều dưỡng, nhưng ít nhất là có một nhóm bệnh đã được báo cáo tại một cơ sở chăm sóc dài hạn. Khi xuất hiện các đợt bùng phát H1N12009 tại những cơ sở này, khuyến cáo rằng những bệnh nhân mắc bệnh nên được điều trị bằng oseltamivir hoặc zanamivir, và rằng việc điều trị dự phòng bằng oseltamivir hoặc zanamivir nên được bắt đầu càng sớm càng tốt nhằm giảm bớt sự lây lan của vi-rút, cũng giống như khuyến cáo đối với các đợt bùng phát cúm theo mùa tại các cơ sở này. Hướng dẫn bổ sung về các biện pháp kiểm soát lây nhiễm tại các cơ sở chăm sóc dài hạn có thể tìm thấy tại: Sử Dụng Thuốc Kháng Vi-rút để Kiểm Soát Việc Bùng Phát Cúm tại Các Viện.

Ngoài việc được áp dụng tại các khu điều dưỡng, điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi-rút có thể được xem xét để kiểm soát sự bùng phát của cúm tại những môi trường bán khép kín (ví dụ như nhà giam hoặc những môi trường khác trong đó người ta sống gần cạnh nhau) nơi có một số lượng lớn những người có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm cư trú. Để biết thêm thông tin về việc bùng phát cúm tại các môi trường, vui lòng xem:

  1. Phòng Ngừa và Kiểm Soát Cúm: Các Khuyến Cáo của Ủy Ban Tư Vấn về Quy Trình Phòng Ngừa Miễn Dịch (ACIP), 2008
  2.  Cúm Theo Mùa ở Người Lớn và Trẻ Em - Chẩn Đoán, Điều Trị, Điều Trị Dự Phòng, và Kiểm Soát Bùng Phát trong Viện: Hướng Dẫn Thực Hành Lâm Sàng của Hiệp Hội Bệnh Lây Nhiễm Hoa Kỳ
  3. Hướng Dẫn Tạm Thời dành cho các Trại Giam và Nhà Tạm Giam về Vi-rút Cúm Mới A (H1N1)
  4. Hướng Dẫn Tạm Thời dành cho Nhà Trú Ẩn Khẩn Cấp về Vi-rút Cúm Mới A (H1N1)

Không nên kiểm soát các đợt bùng phát cúm tại trường học, trại, sở làm và các môi trường sinh hoạt theo nhóm khác bằng cách điều trị dự phòng cho tất cả những người có thể đã phơi nhiễm vi-rút cúm. Những cư dân khỏe mạnh thông thường có mặt tại những môi trường này nên được hướng dẫn về các dấu hiệu và triệu chứng của cúm, và được đề nghị tham vấn nhà cung cấp dịch vụ y tế của mình nếu bệnh cảnh nặng tiến triển. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm có thể được xem xét đối với những người đáp ứng các tiêu chí về phơi nhiễm trên đây và có một tình trạng bệnh lý hoặc ở một độ tuổi có nguy cơ cao bị biến chứng do cúm. Chú trọng vào việc đánh giá và điều trị sớm, như nêu trên đây, cũng là một lựa chọn thay thế. Những người tại các cơ sở này cũng nên được hướng dẫn về các biện pháp vệ sinh và kiểm soát lây nhiễm nhằm giảm bớt sự lây truyền của vi-rút cúm.

đầu trang

Các Phác Đồ Cụ Thể Để Điều Trị và Điều Trị Dự Phòng Cúm A H1N1 2009

Các Phác Đồ Điều Trị và Điều Trị Dự Phòng dành cho Người Lớn và Trẻ Em theo Tuổi và Cân Nặng
Bảng 1. Các khuyến cáo về liều dùng thuốc kháng vi-rút để điều trị và điều trị dự phòng nhiễm H1N1 2009.
(Trích từ thông tin sản phẩm của Tamiflu® và Relenza®)
Loại Thuốc Điều Trị
(5 ngày)
Điều trị dự phòng
(10 ngày)
Oseltamivir1
Người lớn
 75 mg hai lần mỗi ngày75 mg một lần mỗi ngày
Trẻ em ≥ 12 tháng tuổi
Trọng Lượng Cơ Thể (kg)Trong Lượng Cơ Thể (lbs)  
≤15 kg
≤33lbs
30 mg hai lần mỗi ngày
30 mg một lần mỗi ngày
> 15 kg đến 23 kg
>33 lbs đến 51 lbs
45 mg hai lần mỗi ngày
45 mg một lần mỗi ngày
>23 kg đến 40 kg
>51 lbs đến 88 lbs
60 mg hai lần mỗi ngày
60 mg một lần mỗi ngày
>40 kg
>88 lbs
75 mg hai lần mỗi ngày
75 mg một lần mỗi ngày
Trẻ em từ 3 tháng đến < 12 tháng 2
  
3 mg/kg/liều hai lần mỗi ngày
3 mg/kg/liều một lần mỗi ngày
Trẻ em 0 đến < 3 tháng 3
  
3 mg/kg/liều hai lần mỗi ngày
Không khuyến cáo trừ khi hoàn cảnh được đánh giá là cấp thiết, do thiếu số liệu về việc sử dụng cho nhóm tuổi này
Zanamivir4
Người lớn
 10 mg (hai lần hít 5 mg ) hai lần mỗi ngày10 mg (hai lần hít 5 mg) một lần mỗi ngày
Trẻ em (≥7 tuổi đối với điều trị, ≥5 tuổi đối với điều trị dự phòng)
 10 mg (hai lần hít 5 mg ) hai lần mỗi ngày 10 mg (hai lần hít 5 mg) một lần mỗi ngày
  1. Oseltamivir được dùng qua đường miệng không liên quan đến thức ăn, mặc dù nếu được dùng cùng thức ăn có thể làm tăng khả năng dung nạp tại dạ dày và ruột. Oseltamivir sẵn có với tên thuốc Tamiflu(r) dạng viên nang 30 mg, 45 mg, và 75 mg; và dạng bột để pha huyền dịch uống mà sau khi pha thành huyền dịch sẽ có hàm lượng 12 mg/mL. Khi không có sẵn huyền dịch uống được sản xuất để bán trên thị trường, có thể mở viên nang và trộn bột thuốc bên trong với chất lỏng ngọt để giấu vị đắng, hoặc có thể pha chế tại các nhà thuốc để tạo thành huyền dịch (hàm lượng cuối cùng 15 mg/mL). Ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận, liều dùng nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine. Đối với những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine 10-30 mL/phút: 75 mg một lần mỗi ngày trong 5 ngày. Để điều trị dự phòng cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine 10-30 mL/phút: 30 mg một lần mỗi ngày hoặc 75 mg hai ngày một lần liên tiếp 10 ngày sau phơi nhiễm.
  2. Định liều theo cân nặng được ưa dùng hơn, tuy nhiên nếu không biết cân nặng, có thể cần phải định liều theo tuổi để điều trị (cho dùng hai liều mỗi ngày) hoặc điều trị dự phòng (cho dùng một liều mỗi ngày) cúm cho trẻ sơ sinh đẻ đủ tháng dưới 1 tuổi: 0-3 tháng (chỉ dùng để điều trị) = 12 mg (1 mL huyền dịch bán sẵn trên thị trường hàm lượng 12 mg/mL); 3-5 tháng = 20 mg một lần mỗi ngày (1,6 mL huyền dịch bán sẵn trên thị trường hàm lượng 12 mg/mL), 6-11 tháng = 25 mg (2 mL huyền dịch bán sẵn trên thị trường hàm lượng 12 mg/mL) một lần mỗi ngày).
  3. Các khuyến cáo hiện tại về định liều theo cân nặng không dành cho trẻ đẻ non. Trẻ đẻ non có thể có độ thanh thải chậm hơn đối với Oseltamivir do chức năng thận chưa hoàn thiện, và liều dùng khuyến cáo đối với trẻ đẻ đủ tháng có thể dẫn đến nồng độ thuốc quá cao đối với nhóm tuổi này. Có một số lượng rất hạn chế các dữ liệu về một số trẻ đẻ non được dùng liều trung bình 1,7 mg/kg hai lần mỗi ngày đã thể hiện nồng độ thuốc cao hơn nồng độ theo dõi được đối với liều dùng điều trị khuyến cáo ở trẻ đẻ đủ tháng (3 mg/kg hai lần mỗi ngày). Nồng độ thuốc theo dõi được ở các trẻ đẻ non là rất khác nhau. Những thông tin này không đủ để khuyến cáo một liều dùng Tamiflu cụ thể cho trẻ đẻ non.
  4. Zanamivir được dùng theo đường hít vào bằng một dụng cụ đăng ký độc quyền gọi là Diskhaler được phân phối cùng với thuốc. Zanamivir là bột khô, không phải thuốc khí dung, và không được phép dùng bằng ống phun, thiết bị thông khí hoặc các thiết bị khác thường được sử dụng đối với các thuốc theo phương pháp khí dung khác. Zanamivir không được khuyên dùng đối với những người bị các bệnh hô hấp mãn tính như hen hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, mà các bệnh này làm tăng nguy cơ co thắt phế quản.

Các Vấn Đề Cần Cân Nhắc Khi Kê Đơn và Cấp Thuốc Kháng Vi-rút

Các Thuốc Thay Thế Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống dành cho Bệnh Nhi

Mặc dù Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống được sản xuất để bán trên thị trường (12 mg/mL) là sản phẩm được ưa dùng đối với những bệnh nhân gặp khó khăn khi nuốt viên nang hoặc khi cần dùng liều thấp hơn, nhưng sản phẩm này có thể không sẵn có tại địa phương.

Đối với những bệnh nhân dưới một tuổi, có một lựa chọn khác:

  • huyền dịch do một nhà thuốc bán lẻ pha chế (Thông Tin của FDA Về Độ An Toàn Của Thuốc: Pha Chế Khẩn Cấp Huyền Dịch Uống từ Viên Nang Tamiflu 75 mg (Hàm Lượng Cuối Cùng 15 mg/mL)

Đối với trẻ em từ một tuổi trở lên, có hai lựa chọn khác:

  • huyền dịch do một nhà thuốc bán lẻ pha chế (giống đường dẫn trên đây)
  • viên nang 30mg, 45mg, hoặc 75 mg, mà người chăm sóc có thể trộn thuốc với một chất lỏng ngọt nếu như trẻ không thể nuốt viên nang ("Mở và Trộn Viên Nang Tamiflu với Chất Lỏng nếu Trẻ Không Thể Nuốt Viên Nang"

đầu trang

Pha Chế Huyền Dịch Oseltamivir - Các Sai Sót Về Liều Dùng Có Thể Xảy Ra

Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống được sản xuất để bán trên thị trường có hàm lượng 12 mg/mL; huyền dịch pha chế có hàm lượng 15 mg/mL.

Khi kê đơn Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống, bác sĩ kê đơn cần nêu rõ hàm lượng nếu như kê đơn theo mi-li-lít (mL) hoặc thìa cà phê (tsp) , hoặc là nên kê đơn với liều dùng tính bằng mi-li-gram (mg)

Thông tin bổ sung có thể được tìm thấy tại:

  • Cúm H1N1: Các Nguồn Thông Tin dành cho Dược Sĩ
  • Cảnh Báo về Vấn Đề An Toàn đối với Thực Hành An Toàn Dược Phẩm: Việc Thiếu Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống Góp Phần Gây Ra Các Sai Sót về Liều Dùng

Tamiflu® Dạng Huyền Dịch Uống Có Bán Trên Thị Trường - Các Sai Sót Có Thể Xảy Ra Về Dụng Cụ Định Liều

Những dược sĩ có Tamiflu® dạng Huyền Dịch Uống nên biết rằng đi kèm với bao gói của nhà sản xuất là dụng cụ định liều thuốc uống được chia độ thành 30 mg, 45 mg, và 60 mg, chứ không phải là chia độ theo mi-li-lít (mL) hoặc thìa cà-phê (tsp). Đã có trường hợp đơn vị đo lường theo chỉ dẫn trên toa thuốc (mL, tsp) không khớp với dụng cụ định liều (mg), gây lẫn lộn và định liều sai. Khi cấp Tamiflu® dạng Huyền Dịch Uống được sản xuất để bán trên thị trường, dược sĩ cần chắc chắn rằng đơn vị đo lường theo chỉ định tại đơn thuốc khớp với dụng cụ định liều. Nếu chỉ định tại đơn thuốc kê liều dùng theo mi-li-lít (mL) hoặc thìa cà-phê (tsp), thì dụng cụ đi kèm theo gói sản phẩm Tamiflu® phải được tháo bỏ và thay bằng dụng cụ đo lường thích hợp,.

Khi cấp Tamiflu® dạng Huyền Dịch Uống được sản xuất để bán trên thị trường, vui lòng chắc chắn rằng đơn vị đo lường theo chỉ định tại đơn thuốc khớp với dụng cụ định liều được cung cấp. Đối với trẻ em dưới 1 tuổi, phải luôn luôn loại bỏ dụng cụ định liều uống đi kèm trong bao gói và thay bằng dụng cụ đo lường thích hợp, bởi vì dụng cụ này không được thiết kế để đong các liều < 30 mg.

Thông tin bổ sung có thể được tìm thấy tại:

  • Cúm H1N1: Các Nguồn Thông Tin dành cho Dược Sĩ
  • Cảnh Báo của FDA về Sức Khỏe Cộng Đồng: Các Sai Sót Có Thể Xảy Ra Về Thuốc đối với Tamiflu dạng Huyền Dịch Uống

đầu trang

Tác Dụng Phụ và Chống Chỉ Định

Nhìn chung oseltamivir và zanamivir được dung nạp tốt ở các nhóm tuổi đã được FDA phê chuẩn. Buồn nôn và nôn được báo cáo thường gặp hơn ở người lớn sử dụng oseltamivir để điều trị (buồn nôn mà không nôn: xấp xỉ 10%; nôn: xấp xỉ 9%) so với những người dùng giả dược (buồn nôn mà không nôn: xấp xỉ 6%; nôn: xấp xỉ 3%). Trong số trẻ em được điều trị bằng oseltamivir, 14% nôn, so với 8,5% nôn ở trẻ dùng giả dược. Oseltamivir dạng huyền dịch được bào chế có chứa sorbitol, chất này có thể có liên quan đến tiêu chảy và đau bụng ở những bệnh nhân không dung nạp fructose. Dữ liệu về độ an toàn trong quá khứ của việc điều trị cúm theo mùa ở trẻ em dưới 1 tuổi bằng oseltamivir chỉ có với số lượng hạn chế, và ngụ ý rằng các phản ứng phụ nghiêm trọng là hiếm gặp. Dữ liệu trong tương lai về độ an toàn và tính hiệu quả của oseltamivir đối với nhóm tuổi này sẽ tiếp tục được thu thập. Các phản ứng dị ứng (mẩn đỏ, sưng tấy mặt hoặc lưỡi, quá mẫn) đã được báo cáo trong thực hành lâm sàng đối với cả oseltamivir và zanamivir.

Zanamivir - một loại thuốc dạng hít vào, có thể gây co thắt phế quản và không được khuyến cáo để điều trị cho bệnh nhân có nguy cơ tiềm ẩn co thắt phế quản cao. Zanamivir chỉ nên được sử dụng theo chỉ định tại đơn thuốc bằng cách dùng dụng cụ Diskhaler đi kèm với thuốc. Công thức zanamivir có trên thị trường (Bột Hít Vào Relenza®) là hỗn hợp của hoạt chất zanamivir và chất chuyển tải thuốc lactose. Công thức này không được thiết kế hoặc nhằm mục đích để sử dụng cho mọi ống phun hoặc thiết bị thông khí cơ học bởi vì có nguy cơ đường lactose sẽ cản trở hoạt động bình thường của thiết bị thông khí cơ học. Mặc dù có các báo cáo được công bố và không được công bố về việc sử dụng zanamivir bằng ống phun và mặt nạ trong các thử nghiệm lâm sàng, nhưng công thức thuốc sẵn có trên thị trường không được thiết kế hoặc nhằm mục đích để sử dụng bằng ống phun.

Trong một số trường hợp hiếm gặp, các phản ứng thần kinh-tâm thần thoáng qua (tự gây thương tích hoặc mê sảng) ở những người dùng oseltamivir và zanamivir đã được báo cáo trong các giám sát sau khi đưa sản phẩm ra thị trường. Phần lớn các trường hợp báo cáo này là ở trẻ em và người vị thành niên sống tại Nhật Bản. Bởi vì việc nhiễm cúm tự bản thân nó có thể có liên quan đến hàng loạt các triệu chứng thần kinh và hành vi, bao gồm cả co giật, mê sảng và ảo giác, cho nên không rõ liệu các chất ức chế neuraminidase có phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra các tác dụng về thần kinh-tâm thần này hay không. Cho đến nay, các phân tích có hiệu lực trở về trước do Roche - nhà sản xuất oseltamivir thực hiện chưa tìm ra bằng chứng cho việc gia tăng nguy cơ gặp các phản ứng về thần kinh-tâm thần sau khi sử dụng oseltamivir. Cho đến khi có thêm số liệu bổ sung, FDA khuyên những người sử dụng chất ức chế neuraminidase nên được theo dõi về các hành vi bất thường. Để biết thêm thông tin, vui lòng tham khảo Cảnh Báo Về Độ An Toàn MedWatch, FDA: Tamiflu®.

Dữ liệu về độ an toàn của peramivir IV là hạn chế và được tóm tắt trong EUA Tờ Thông Tin dành cho Chuyên Gia Chăm Sóc Sức Khỏe. Sau một liều đơn 200 mg hoặc 400 mg peramivir IV, các tác dụng phụ trên lâm sàng và các bất thường tại phòng thí nghiệm không thường gặp hơn sau khi dùng giả dược. Trong số các bệnh nhân nhập viện được điều trị trong 5 ngày bằng peramivir IV, 200 mg hoặc 400 mg, các tác dụng phụ tổng thể được ghi nhận ở 54% bệnh nhân, so với tỷ lệ gặp tác dụng phụ ở 41% bệnh nhân được điều trị bằng oseltamivir 75 mg dạng uống hai lần mỗi ngày. Tác dụng phụ nghiêm trọng được ghi nhận ở 4% bệnh nhân dùng 200 mg hàng ngày, 17% bệnh nhân dùng 400 mg, và 9% bệnh nhân dùng oseltamivir. Tiêu chảy và các tác dụng phụ về thần kinh thường gặp ở những người dùng peramivir hơn là những người dùng oseltamivir. Về các thông số trong phòng thí nghiệm, các bác sĩ lâm sàng nên theo dõi số lượng tế bào máu, điện giải, chức năng thận, xét nghiệm nước tiểu, và chức năng gan theo khuyến cáo trong EUA. Vì dữ liệu về độ an toàn của peramivir là hạn chế, cho nên yêu cầu về báo cáo là một phần bắt buộc trong các điều kiện của EUA. Nhà cung cấp dịch vụ y tế (hoặc người được chỉ định) phải báo cáo các tác dụng phụ và tất cả sai sót về thuốc có liên quan đến peramivir cho chương trình MedWatch của FDA trong vòng 7 ngày theo lịch kể từ ngày xảy ra tác dụng phụ, bao gồm cả báo cáo theo dõi tiếp khi được yêu cầu.

Báo Cáo Tác Dụng Phụ

Các chuyên gia y tế cần phải báo cáo ngay tất cả các tác dụng phụ nghiêm trọng (SEA) sau khi dùng thuốc kháng vi-rút cho MedWatch, chương trình báo cáo tác dụng phụ của thuốc của FDA.

đầu trang

Để Biết Thêm Thông Tin

Để biết thêm thông tin về cúm và thuốc kháng vi-rút, bao gồm thông tin về chống chỉ định và tác dụng phụ, vui lòng xem các tài liệu sau:

  • Hỏi & Đáp: Thuốc Kháng Vi-rút, Mùa Cúm 2009-2010
  • Tác Nhân Kháng Vi-rút dùng cho Cúm Theo Mùa: Tác Dụng Phụ và Phản Ứng Nghịch.
  • Harper SA, Bradley JS, Englund JA, và cộng sự. Hướng Dẫn của Hiệp Hội Bệnh Lây Nhiễm Hoa Kỳ. Cúm Theo Mùa ở Người Lớn và Trẻ Em - Chẩn Đoán, Điều Trị, Điều Trị Dự Phòng, và Quản Lý Bùng Phát trong Viện: Hướng Dẫn Thực Hành Lâm Sàng của Hiệp Hội Bệnh Lây Nhiễm Hoa Kỳ
  • Jain, S và cộng sự. Bệnh Nhân Nhập Viện nhiễm Cúm H1N1 2009 tại Hoa Kỳ, Tháng Tư - Tháng Sáu 2009.. N Engl J Med 2009;361.
  • Jamieson DJ, và cộng sự. Nhiễm vi-rút cúm H1N1 2009 trong thai kỳ tại Hoa Kỳ. Lancet 2009;374:451-8.
  • CDC. Bệnh Nhân Điều Trị Tích Cực do Lây Nhiễm Nặng Vi-rút cúm mới A (H1N1) --- Michigan, Tháng Sáu 2009. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2009:58:749-52.
  • Rasmussen SA. Đại Dịch Cúm và Phụ Nữ Mang Thai: Tóm Tắt Cuộc Họp Của Các Chuyên Gia . Am J Public Health 2009; 99 (S2): S248-S254.

Đường dẫn tới các tổ chức phi liên bang được cung cung cấp chỉ vì mục đích phục vụ người dùng của chúng tôi. Các đường dẫn này không cấu thành việc chứng thực cho các tổ chức này hoặc các chương trình của họ bởi CDC hoặc chính quyền liên bang, và không có suy luận nào như vậy. CDC không chịu trách nhiệm về nội dung của các trang Web của từng tổ chức được tìm thấy theo các đường dẫn này.

đầu trang

Last syndicated: March 19, 2010 2:30 PM EDT
Nội dung này được đem tới cho quý vị bởi Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh

 
  • TrangChủ
  • G.Thiệu
  • L.Hệ
  • T.Cập
  • C.Sách B.Mật
  • MiễnTrách từ TrangWeb
  • WhiteHouse.gov
  • USA.gov
  • GobiernoUSA.gov

White House Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh Hoa Kỳ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ Viện Y Tế Quốc Gia (NIH)

Trang Web của chính quyền liên bang được quản lý bởi U.S. Department of Health & Human Services - 200 Independence Avenue, S.W. - Washington, D.C. 20201